Hiển thị các bài đăng có nhãn Nghệ thuật. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nghệ thuật. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 26 tháng 10, 2015

Nghệ thuật trào phúng trong thơ Trần Tế Xương: Cười đó rồi khóc đó



.
.
Tú Xương (Tranh của họa sĩ Trần Quang Trân vẽ sau khi ông Tú mất khoảng 20 năm) (Ảnh tư liệu)
Yếu tố trào phúng và trữ tình trong thơ Trần Tế Xương thường đan xen nhau, trong cái này luôn có cái kia và ngược lại.
Những bài nghiên cứu về Tú Xương, nhất là của các nhà thơ, nhà nghiên cứu có uy tín như Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Trần Thanh Mại, v.v… đều dành bút lực tập trung khai thác nhiều phần trữ tình, phần đau thương, xót xa của Trần Tế Xương trước thời cuộc mất nước và cảnh nghèo khổ, bần cùng của bản thân. Nhưng có điều lạ, đông đảo độc giả lại nhớ Tú Xương nhiều hơn với tư cách nhà thơ trào phúng, họ thường vận dụng các câu thơ có tính nghịch cảnh, nghịch lý, gây cười của ông. Như vậy, trong văn hóa đại chúng, người đọc nhìn Tú Xương với tư cách nhà thơ trào phúng, còn trong văn hóa hàn lâm, người ta khai thác sâu vị thế nhà thơ trữ tình của ông.
Nhìn một cách khái lược, trong thơ trào phúng luôn có những yếu tố đi cùng đại chúng, thời cuộc; còn thơ trữ tình hay đi với những điều nghiêm chỉnh, nghiêm ngắn. Khi thời cuộc có nhiều nghịch lý, lố bịch và vô lý trong đời sống, những người sáng tác, nhất là sáng tác dân gian, thường chĩa ngòi bút vào và khai thác các mặt đen trắng, mâu thuẫn đó thành tiếng cười. Do đó, người ta tổng kết, khi trào phúng phát triển, xã hội thường có những rối loạn, loạn chuẩn; khi trào phúng ít đi, nói chung xã hội đạt được sự nghiêm túc, căn cơ. Điều này nếu áp vào thời của Tú Xương, sau Hiệp định 1884, triều đình Huế nhường toàn bộ quyền quản lý cho Pháp, nước ta mất hoàn toàn vào tay thực dân, từ đây sản sinh ra một tầng lớp mới là đám công chức đi làm cho Pháp, nảy sinh chủ nghĩa tư bản ở thành thị. Cùng với đó là lối sống mới, nhân sinh quan mới mâu thuẫn với triết lý nhà Nho. Tất cả những điều này kích thích Tú Xương sắc sảo nhìn ra các mặt đối lập đó. Tất nhiên, bên cạnh Tú Xương còn có những cây bút khác, có thể tài không bằng ông, nhưng cũng tạo ra sự đồng thanh tương ứng. Đây là thời kỳ đề tài chế giễu, bài bác, đả kích rất phát triển.
Cười người và cười mình
Thơ trào phúng của Tú Xương rất phong phú, vì nó là tấm gương soi chiếu cuộc đời nên cuộc đời có gì thì nó hiện lên, không phân biệt đề tài lớn, nhỏ. Hễ chúng đụng vào tâm hồn, trái tim, tư tưởng của Tú Xương thì ông đều tìm ra tiếng cười đả kích. Tuy nhiên, nhìn một cách hệ thống, ta có thể hình dung về hai mảng đề tài lớn trong thơ trào phúng Tú Xương. Trước hết là cảnh đời, xã hội khách quan. Ở đó, ông tìm ra những điều trái đạo lý như chuyện nhà sư phá giới, tằng tịu với đệ tử, chuyện những kẻ dốt nát lại được làm quan, việc thi cử và thái độ ngạo mạn của bọn thực dân, những suy vi thoái trào của đạo học và nền nếp Nho giáo.
Mảng đề tài thứ hai khá nổi bật trong thơ Tú Xương là tinh thần trào lộng, tự giễu cợt. Biết tự cười mình luôn là bản lĩnh rất lớn và ngạo nghễ của những người có cá tính. Với Tú Xương, ông tự thấy bản thân có những nghịch lý để tự trào. Ông là người thông minh, có tài thơ văn, nhưng thi mấy lần cũng chỉ đỗ đến tú tài, đạt được cái bằng cũng không dùng để đi làm mà chỉ là thứ ghi nhận một nấc thang học vấn. “Hỏi ra quan ấy ăn lương vợ”, ông tự giễu mình, tự lấy mình ra sỉ vả, và vì không động chạm đến ai nên ông thường phóng to nhược điểm của mình. Qua đó cho thấy, trong những nghịch lý này có lỗi của thời đại, xã hội. Chẳng hạn, ông không có nhiều quần áo, chỉ có một tấm áo bông rất đẹp. Do đó, khi phải tiếp khách, dù trời nóng phát sốt, ông vẫn phải mặc áo rét. “Bức sốt mà mình vẫn áo bông - Tưởng rằng ốm dậy hóa ra không”. Cảnh đó thật buồn cười, nhưng sau cái cười là sự thương cảm với thân phận nhà thơ nghèo khổ.
Rồi chuyện Tú xương phải lo việc nhà để vợ đi buôn bán kiếm tiền. Mặc dù không giỏi việc gia chánh nhưng vì không biết kiếm tiền nên Tú Xương phải ở tư thế “làm vợ” với những câu tự giễu mình như: “Vuốt râu nịnh vợ con bu nó - Quắc mắt khinh đời cái bộ anh”. Ra đời thì quắc mắt coi thường mọi người vì ỷ thế là người có tài, nhưng về nhà vẫn phải nịnh vợ vì kinh tế do vợ nắm. Mà thời đồng tiền làm chủ thì kinh tế quan trọng lắm, nên vẫn phải “Vuốt râu nịnh vợ con bu nó” là thế.
Cái hay ở Tú Xương là đằng sau việc ông tự giễu ông nhà Nho, ta thấy cả một đạo học suy vi. Thời trước là “duy hữu độc thư cao”, chỉ người đọc thánh hiền mới đáng được coi trọng, thì bây giờ không còn như vậy nữa. Thậm chí có lúc ông coi mình như một thứ ăn hại, như đứa con trong số những đứa con bà Tú phải nuôi. Không ai lấy chồng cộng với con thành một nhóm như Tú Xương đã viết trong bài Thương vợ.
Ông tổ của thơ trào phúng
Đầu thế kỷ XX, năm 1907, Tú Xương tạ thế. Hai năm sau, năm 1909, Nguyễn Khuyến tạ thế. Đây là hai nhà thơ cổ điển cuối cùng của nền văn học kéo dài suốt 10 thế kỷ viết bằng chữ Hán của Việt Nam. Nhưng người ta thường xem Nguyễn Khuyến là tác gia cuối cùng kết thúc cho một dòng văn học theo lối văn chương cử tử, thì với Tú Xương, tác phẩm của ông lại được liệt vào hàng những tác phẩm mở đầu cho một luồng gió mới, đại diện cho tâm tư, tình cảm của lớp người mới, những thị dân sống ở thế kỷ XX.
Tú Xương xuất hiện trong hai tư cách: nhà thơ trữ tình và nhà thơ trào phúng. Lẽ dĩ nhiên, không thể phủ nhận phần đóng góp rất lớn của ông ở mảng thơ trữ tình, nhưng cái làm quần chúng nhớ tới ông nhiều hơn chính là tư cách nhà thơ trào phúng.
Tú Xương, bằng những tác phẩm trào phúng để đời của mình như Năm mới chúc nhau, Đất Vị Hoàng, Lễ xướng danh, Thói đời…, đã góp phần khai sinh một dòng thơ mới, mà kế đó là một loạt nhà thơ trào phúng bắt chước tên Tú Xương như Tú Mỡ (nhà thơ trào phúng viết bằng chữ quốc ngữ), Tú Nạc, Tú Sụn, Tú Sót, Tú lơ mông (đọc theo tiếng Pháp, có nghĩa là tất cả mọi người). Đánh giá về thành công của một tác giả thơ, có thể có nhiều tiêu chí, nhưng việc có những người bắt chước cách viết của nhà thơ ấy cũng có thể coi là một trong những tiêu chí nhận diện. Như vậy để thấy sức ảnh hưởng rất lớn của Tú Xương đã thúc đẩy sự ra đời của cả một dòng thơ trào phúng hiện đại, khởi đầu là Tú Mỡ. Việc tìm ra tình huống hài hước và tìm ra ngôn ngữ miêu tả đắc địa những tình huống ấy đều là những sở trường của dòng thơ trào phúng xuất phát từ Tú Xương. Cố nhiên sau này có rất nhiều biến hóa, có thêm đóng góp của các nhà thơ hiện đại, đương đại, nhưng cú hích đầu tiên là ở Tú Xương. Và hiện nay, ít người nhắc tới tên thật, tên ghi trong khai sinh của ông là Trần Kế Xương (hay Trần Tế Xương) mà thường gọi là Tú Xương, đó là cách gọi đại chúng, cũng như cách ta gọi những ông tuần, ông cử, ông phủ, đó là cách gọi của dân gian. Gọi Tú Xương là gọi theo cách gọi dân gian, đó là cách gọi để ghi nhận mạch thơ trào phúng của ông. Có thể thấy, trào phúng chưa phải là mạch chính của Tú Xương, nhưng sự ảnh hưởng lớn của ông trên văn đàn lại chính là dòng mạch này. Và đây sẽ là vấn đề cần được giải thích kỹ hơn để có thể nối được giai đoạn từ cổ điển sang hiện đại, đương đại, để thấy sự chuyển đổi giữa các trào lưu văn học như thế nào.
Nói về đề tài, có lẽ cũng nhiều người như Tú Xương đã khai thác tiếng cười từ những chệch choạc, nhố nhăng trong xã hội và tự cười nhạo chính mình để nói lên những thói tật của đời sống. Nhưng về mặt nghệ thuật, Tú Xương đã tạo nên được một giọng điệu rất riêng bởi cá tính độc đáo của mình.
Trước hết, ông tạo nên được những tình huống, tình thế đặc biệt. Chẳng hạn trong câu “Trên ghế bà đầm ngoi đít vịt - Dưới dân ông Cử ngỏng đầu rồng”. Bà đầm vợ ông quan Tây đến dự lễ xướng danh thì ngồi trên ghế. Các ông quan thời đó ở dưới sân. Khi đọc xướng danh, phải lạy thiên tử. Khi người đỗ - tiêu biểu cho đạo học - lại ở dưới thấp và cúi lạy bà đầm - tiêu biểu cho bọn thống trị, ngồi ở chỗ cao thì Tú Xương lại chỉ lia cái ống kính của mình quay cận cảnh. Cái đứa ngồi ông chỉ quan tâm tới cái mông của nó. Còn người quỳ ở dưới, ông chỉ quan tâm tới cái đầu. Vậy tình thế ở đây là anh thống trị - anh bị trị, anh vô học - anh có học, cái đít vịt - cái đầu rồng, đó là cái đáng gây cười. Còn thái độ được biểu lộ qua chữ “ngỏng”, đó là chữ rất nghịch ngợm của Tú Xương. “Bà ngoi - ông ngỏng”, hình ảnh đó khiến sân khấu của lễ xướng danh thành ra như trò hề không ra đầu đuôi gì cả.
DƯƠNG KIM THOA


Vẻ đẹp ngôn từ nghệ thuật trong truyện Kiều của Nguyễn Du qua một số đoạn trích


     Xưa nay, nghiên cứu ngôn từ nghệ thuật trong Truyện Kiều , người ta thường hay chú ý trước hết đế những chỗ dùng từ chính xác, từ hay , tinh tế thường được gọi là lối dùng từ đắt của Nguyễn Du ,cũng như cách dùng hư từ , khối lượng từ đồng nghĩa , từ có phong cách khẩu ngữ, từ mang phong vị ca dao , thành ngữ, tục ngữ ...
   Ví như hai từ đầy đặn , nở nang trong câu thơ “ Khuôn trăng đầy đặn / Nét ngài nở nang” khi tác giả dùng để miêu tả Thuý Vân. Hai từ đó không chỉ đơn thuần là miêu tả khuôn mặt tròn trịa ,đầy đặn như mặt trăng đêm rằm của nàng Vân , cũng như cả cái nét ngài minh bạch ,rõ ràng , uốn cong thanh tú của nàng mà đó còn là sự đầy đặn, mỹ mãn của số phận , của cuộc đời nàng . Hai chữ thua , nhường trong câu thơ “Mây thua nước tóc , tuyết nhường màu da” dùng để chỉ thiên nhiên và cũng chính là tạo hoá sẽ chịu thua mái tóc mây, dài, xanh mượt, màu da trắng như tuyết để nhường bước cho nàng đi trên con đường bằng phẳng , không hề có chông gai .
   Hay như chữ thông minh trong câu “Thông minh vốn sẵn tính trời” dùng để nhấn mạnh trí tuệ thiên bẩm của nàng Kiều mà nhiều người cho rằng đó là một nhãn tự nhờ cách nhà thơ đưa từ này lên đầu câu , nó không chỉ nhằm khắc hoạ một tính cách mà là cả một nhân cách . Kiều đẹp sắc sảo, mặn mà - Một vẻ đẹp vừa rực rỡ , vừa hấp dẫn , rất có hồn . Nhưng Kiều chiếm được cảm tình nơi bạn đọc không phải vì cái vẻ sắc nước hương trời ,cùng tài năng hiếm có cuả nàng , mà chủ yếu là phẩm cách tuyệt vời và một trí tuệ hơn người . Trong tác phẩm Truyện Kiều , Nguyễn Du đã nhiều lần viết về tài hoa và trí tuệ theo kiểu ấy . Chẳng hạn như câu “Anh minh phát tiết rangoài” … Điều đó cho thấy ánh sáng trí tuệ chính là yếu tố nổi bật trong tài hoa của Thuý Kiều . 
  Còn như từ não trong câu “Một thiên bạc mệnh lại càng não nhân” . Ở đây , Nguyễn Du đã sử dụng từ não rất chính xác .Nội hàm ý nghĩa của từ này diễn đạt nỗi buồn đã có sẵn tự trong lòng . Nó không chỉ đơn thuần là sầu , buồn , là những từ diễn đạt nỗi buồn trên sắc diện con người mà là não (não lòng , não nuột) . Âm thanh của từ ngữ này dường như xoáy sâu vào tâm can người đọc . Bởi lẽ , khúc nhạc tiêu tao của thiên bạc mệnh ấy đã từng khiến cho biết bao người rung cảm, sầu não theo từng khúc nhạc não nề . Nó đã từng khiến cho Kim Trọng nao nao lòng người , Thúc Sinh phải tan nát lòng và cho cả trái tim vô tình, sắt đá của quan Tổng đốc trọng thần Hồ Tôn Hiến cũng phải cảm thương mà rơi châu nhỏ lệ . Cung đàn bạc mệnh của Kiều đã trở thành một hình tượng nghệ thuật thể hiện tâm hồn đa sầu, đa cảm và số phận bi thương của Kiều là vì thế . Cả câu “Não người cữ gió tuần mưa” thì từ não cũng được dùng với ý nghĩa như vậy .
   Nhiều người cho rằng, Nguyễn Du sử dụng từ ngữ rất đắt . Đắt vì nhiều khi chỉ một chữ thôi đã có thể lột tả được bản chất bên trong của con người . Đó là trường hợp câu thơ “Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao” mà nhà thơ dùng để khắc hoạ nhân vật Mã Giám Sinh lúc đến hỏi Kiều về làm vợ . Một kẻ đã ngoài tứ tuần mà Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao thì thật nực cười và kỳ cục đến không thể chấp nhận được. Bởi nhẵn nhụi là từ ngữ người ta thường dùng để chỉ độ trơn , bóng , láng của đồ vật , chứ không phải dùng để chỉ tính chất trang nhã , lịch sự của con người . Còn từ bảnh bao thường dùng để khen trẻ em có quần áo đẹp lại dùng cho Mã Giám Sinh thì lại có ý chế giễu , mỉa mai . Một kẻ đã nhiều tuổi nhưng lại cố ý tô vẻ , tỉa tót thì lại trở nên kệch cỡm , giả tạo và có phần trai lơ , đàng điếm .
 Đặc sắc nhất vẫn là cách dùng từ trong câu “Ghế trên ngồi tót sỗ sàng” - một cử chỉ vội vàng , khiếm nhã khiến Nguyễn Du phải hạ ngay một từ sỗ sàng . Cử chỉ ấy không phù hợp với một người đi hỏi vợ và lại càng không đúng với phẩm cách văn hoá của một Giám Sinh . Nó quá bất ngờ so với sự chờ đợi của người đọc, quá phi lý so với vai trò của một sinh viên trường Quốc Tử Giám . Cử chỉ này là tín hiệu đầu tiên để bước đầu khẳng định bản chất của Mã Giám Sinh . Tự định vị một cách vô lễ , trịch thượng, chướng mắt trên chiếc ghế của người bề trên ( những bậc cao niên ) càng cho thấy tính chất vô học và nhất là tâm lý hợm cúa của kẻ buôn người giàu có . Chỉ một chữ tót đã phủ nhận vai trò giám sinh của gã họ Mã .
  Như thế cũng chưa đủ . Cái cách cò kè thêm bớt đến cả một giờ lâu rồi mới ngã giá vàng ngoài bốn trăm thì Nguyễn Du đã lột tả được bộ mặt gớm ghiếc, giả dối của Mã Giám Sinh . Hắn đã hiện nguyên hình là một gã con buôn lọc lõi chỉ cần biết một điều là làm sao mua được món hàng với giá hời nhất , chỉ cần một vốn mà có đến bốn lời là được .Chỉ với một từ cò kè rất con buôn, Nguyễn Du đã cho ta thấy được bộ mặt tàn ác, dơ bẩn nhất của bọn buôn thịt bán người mà Mã Giám Sinh là đại diện .
   Và trong đoạn đời đầu tiên của bước lưu lạc, lúc Kiều được đưa ra ở lầu Ngưng Bích, nàng đã sống trong một tâm trạng buồn tủi , chua xót đến cực độ . Nàng đâu còn cơ hội khoá kín tuổi xuân của mình nữa . Nàng không còn giữ được chữ trinh đối với chàng Kim thì hai chữ khoá xuân lại đầy mỉa mai đối với nàng . Thực chất nàng đang bị Tú Bà giam lỏng để chờ ngày kén chồng tử tế , nhưng thực ra là mụ đang rắp tâm thực hiện một âm mưu mới .
   Trong cảnh vò võ cô đơn , trơ trọi nàng đã tưởng nhớ đến người yêu . Chỉ một từ tưởng mà nói được bao điều . Nếu mơ là luôn nghĩ đến những kỉ niệm , những điều tốt đẹp về nhau ; hay nhớ cũng là nghĩ đến những điều tốt đẹp nhưng lại có thêm ý mong mỏi có ngày gặp lại thì tưởng cũng là mơ là nhớ nhưng với Kiều chỉ là tưởng , chỉ xem mối tình đầu trong trắng, ngây thơ của mình là một kỉ niệm đẹp , không dám mơ tưởng những gì xa xôi lại càng không dám mong gì ngày gặp lại .
   Nhớ người yêu , Kiều cũng rất nhớ về cha mẹ . Nhưng Nguyễn Du không dùng thương hay nhớ mà lại dùng một chữ xót ở đầu câu thơ . Bởi xót đâu chỉ đơn thuần là nhớ , là thương mà còn bao hàm cả nỗi giận đời và trách mình .
   Ngay cả việc sử dụng điệp ngữ buồn trông ở cuối đoạn thơ Kiều ở lầu Ngưng Bích ta càng thấy Nguyễn Du không hề vô tình khi đặt chữ buồn đứng trước chữ trông .Buồn mà trông ,buồn rồi mới trông là nỗi buồn thấm sâu tự đáy lòng Kiều để rồi trông vào mọi vật nàng chỉ thấy thấp thoáng mơ hồ , tàn tạ, héo uá như chính cuộc đời của nàng cùng với nỗi lo sợ hãi hùng về một tương lai mờ mịt . Thật đúng là “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” .
  Đọc Truyện Kiều ta còn bắt gặp được nhiều câu thơ , nhiều từ ngữ đặc sắc như thế . Chữ cậy emvà chữ chịu lời trong câu 723 dùng thật khéo . Cụ Nguyễn Du dùng chữ cậy là tuyệt hay vì nếu thay chữ nhờ và chữ nghe lời vào thì câu thơ sẽ là Nhờ em em có nghe lời thành ra quá áp đặt , câu thơ trở nên tầm thường, nhạt nhẻo , không còn ý vị gì nữa . Vì điều Kiều sắp nói cho em biết thuộc về chữ tình nên chưa chắc em đã nhận lời cho . Do vậy , dùng cậy và chịu lời là hợp lý nhất .
  Chữ tốc dùng trong câu 1.133 Tú Bà tốc thẳng tới nơi lúc sở khanh đưa Kiều chạy trốn là tuyệt khéo . Chỉ mới nghe câu thơ ấy thôi cũng đủ biết rằng mụ Tú Bà giận dữ lắm , dáng bộ hung hăng, vội vàng lắm , mặc dù điều đó nằm trong âm mưu của mụ nó hoàn toàn khác cái vẻ thong dong khi mụ dạy Kiều nghề chơi. Một chữ tốc thôi nhưng có sức mạnh lạ thường .
Như chỗ nàng Kiều vượt tường để trốn khỏi Quan Âm Các của nhà họ Hoạn “Cất mình qua ngọn tường hoa” – câu 2.227 . Chữ cất dùng ở đấy thật tuyệt . Vì ý nó mơ hồ ,ta không thể biết được là nàng Kiều văng mình qua tường hay trèo qua tường để trốn đi .
   Hay như chữ chặn trong cặp câu thơ 3.181 , 3.182 trong màn Đoàn viên : “Thân tàn chặn đục khơi trong/ Là nhờ quân tử khác lòng người ta” . Nguyễn Du dùng chặn mà không dùng gạn . Bởi vì từ chặn được dùng với nghĩa chặn dòng đục trong quá khứ của cuộc đời Kiều . Quả thật với hoàn cảnh Kiều lúc bấy giờ thì không thể gạn đục khơi trong được . Chữ chặn vì thế mà có giá trị biểu cảm cao .
  Nhìn chung, từ ngữ Truyện Kiều không chỉ hay mà còn rất đắt , rất độc đáo. Nhiều chữ được dùng đi, dùng lại rất nhiều lần nhưng với một nét nghĩa mới nên không thấy nhàm chán như 63 trường hợp sử dụng từ thân, 59 từ xuân, 14 từ ngựa , rất nhiều lần sử dụng chữ tâm và chữ tài . Ngay như chữ chút là một 
uyển ngữ rất khó dùng , thế mà Nguyễn Du sử dụng được 47 chữ như thế … 
1. Vấn đề sử dụng từ ngữ ước lệ trong Truyện Kiều 
     Là nhà thơ thiên tài của dân tộc , Nguyễn Du là người chiụ ảnh hưởng rất lớn thi pháp cổ điển về khắc hoạ , xây dựng hình tượng nhân vật . Vì thế ngôn từ ước lệ được sử dụng nhiều trong Truyện Kiều . Cũng giống như người xưa , nhà thơ đã lấy vẻ đẹp của thiên nhiên như tuyết - mai , trăng - hoa, mây - tuyết , thu thuỷ - xuân sơn , hoa - liễu …Làm chuẩn mực , làm thước đo giá trị , vẻ đẹp của con người . Tác giả đã dùng bút pháp cực tả tuyệt đối hoá , lý tưởng hoá nhan sắc cốt cách hai chị em Kiều . Đó là Mai cốt cách , tuyết tinh thần , khuôn trăng , nét ngài , hoa cười ngọc thốt , mây thua, tuyết nhường , làn thu thuỷ, nét xuân sơn , hoa ghen, liễu hờn …Để khắc hoạ cái cốt cách thanh tao , mảnh dẻ như mai ; tinh thần trong trắng như tuyết. Một vẻ đẹp mười phân vẹn mười nhưng mỗi người một vẻ của chị em Kiều .
     Tả nàng Vân kiều diễm, Nguyễn Du dùng khuôn trăng, nét ngài , hoa cười, ngọc thốt , mây thua , tuyết nhường cùng với một số từ nôm na như khác vời và những từ ngữ đầy đặn, nở nang vừa khắc hoạ được vẻ đẹp đoan trang, phúc hậu của nàng Vân , vừa như dự báo được cuộc sống sau này rất bình lặng của nàng .
   Còn với Kiều , Nguyễn Du đã dùng vẻ đẹp của Thuý Vân để bẫy vẻ đẹp của Kiều . Nhà thơ đã dùng đến 12 câu thơ để khắc hoạ về Kiều . Điều đó chứng tỏ nhà thơ đã dành cho nhân vật chính của mình một tình cảm hết sức đặc biệt . Nhiều thi liệu cổ đã được huy động để khắc hoạ bức chân dung tuyệt mỹ của giai nhân như : Làn thu thuỷ , nét xuân sơn , hoa ghen , liễu hờn … Với bút pháp lý tưởng hoá , Kiều hiện ra trước mắt người đọc bằng hình ảnh một thiếu nữ có đôi mắt trong sáng , bình lặng như mặt nước hồ thu ; nét mày uốn cong thanh tú như dáng núi mùa xuân .Thật là một dung nhan rực rỡ , sắc sảo mặn mà , vừa có duyên, vừa có hồn . Nhưng đẹp đến độ sắc nước hương trời , chim sa cá lặn , nước thành nghiêng đổ , hoa phải ghen , liễu phải hờn tất cuộc đời sẽ gặp nhiều sóng gió, đau khổ … Mười lăm năm lưu lạc chìm nổi của Kiều đã chứng minh rõ điều đó .
   Là một nghệ sĩ về ngôn từ , Nguyễn Du không sử dụng những thi liệu cổ ấy một cách máy móc rập khuôn mà sự sáng tạo của nhà thơ là rất lớn . Nói tới nỗi buồn của người đẹp , nhà thơ gắn với những thềm hoa ,lệ hoa , rồi nét buồn như cúc , điệu gầy như mai … Nói chung , qua việc sử dụng những thi liệu cổ nhà thơ đã tạo ra những từ ngữ rất riêng , rất Nguyễn Du , nhưng vẫn là ngôn ngữ dân tộc .
2. Ngôn từ thiên nhiên (vũ trụ thi ca) của Truyện Kiều .
    Theo tác giả Đặng Tiến thì vũ trụ thi ca trong Truyện Kiều là một không gian với chân trời rộng . Ngoài thảm cỏ non phải xanh tận chân trời ( Cảnh ngày xuân) thì không gian còn là một vũ trụ rộng, trống, mờ xa tít tắp với vẻ non xa , tấm trăng gần ; với cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia (Kiều ở lầu Ngưng Bích). Đó là một vũ trụ từ chối cuộc sống, từ chối con người -một vũ trụ mà cảnh vật bốn bề bát ngát xa trông, bên thì cồn cát nhấp nhô như sóng lượn , bên thì bụi hồng trải dài khắp dặm xa mênh mông .
 Ngoài ra, trong Truyện Kiều, Nguyễn Du còn sử dụng rất nhiều ngôn từ vũ trụ thi ca : Con đường khuya thì phải ngắt tạnh mù khơi , màu của rừng thu phải là màu quan san , khung trời thương nhớ phải gợn áng mây Tần xa xa , đến túp lều cỏ bên sôngTiền Đường cũng phải là “Một gian nước biếc mây vàng chia đôi” . Bên cạnh đó còn có những dặm vi lô hiu hắt , những bờ liễu loi thoi , những rừng phong quan tái . Rồi đến cảnh màu xanh tơ liễu bên cầu , gió cây trút lá , mấy ngàn dâu xanh xuất hiện trong Truyện Kiều những giờ phút chia phôi , những lúc bước chân ngập ngừng , những lúc tâm hồn phân tán … Dường như nhà thơ muốn thu nhận cả đất trời nhân loại bằng cái nhìn phơi trải trong hình ảnh non phơi bóng vàng , cái nhìn đo lường kích thước cuộc sống hằng ngày để xác định vị trí ,tầm sống của mình trước cuộc đời .
3 . Về ngôn từ chỉ màu sắc trong Truyện Kiều 
    Truyện Kiều có nhiều từ ngữ chỉ màu sắc (có đến 119 lần) , với nhiều màu khác nhau. Nguyễn Du dùng từ chỉ màu sắc để tạo thành các hình tượng có nội dung khái quát, rộng lớn và giàu giá trị thẩm mỹ .
    Trước hết cần xét từ ngữ chỉ màu sắc trong các đoạn trích học ( sách Ngữ Văn 9 - tập 1) :
   Tả nàng Vân với mái tóc dài, mượt còn xanh hơn cả mây ; làn da trắng mịn hơn cả tuyết  “ Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da”  . Ở đây, Nguyễn Du dùng màu mây thay cho màu đen của mái tóc . Bởi trong Truyện Kiều chưa có màu đen có ý nghĩa đẹp cho nên tóc đen đẹp được gọi là tóc mây .
   Tả nàng Kiều với đôi môi đỏ thắm khiến hoa phải ghen vì thua thắm và mái tóc xanh mượt khiến liễu phải hờn ( Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh ) .
   Rồi đến màu cỏ non xanh tận chân trời , một màu xanh trải dài mênh mông tít tắp , mà nổi bật trên cái nền toàn cảnh màu xanh ấy là sự điểm xuyết của một vài bông hoa lê màu trắng . Những màu sắc có sự hài hoà tới mức tuyệt dịêu làm cho bức tranh thiên nhiên càng thêm tươi đẹp - những màu sắc tươi sáng, đầy sức sống .
  Không chỉ có màu trắng , màu xanh , Nguyễn Du còn đề cập đến màu vàng,  màu hồng trong câu “Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia” . Đó không chỉ đơn thuần là sắc vàng của cồn cát nhấp nhô, sắc hồng của từng đám bụi cuốn lên từng dặm xa mênh mông mà còn là cát bụi của cuộc đời .
  Đó là màu vàng tàn tạ héo uá của nội cỏ dàu dàu / Chân mây mặt đất một màu xanh xanh – là những màu buồn ,ảm đạm, thiếu sức sống , màu của bế tắc, không lối thoát .
   Trong Truyện Kiều ,từ ngữ chỉ màu sắc ít có tính chất tả thực mà nặng về tính biểu trưng . Tác giả thường lấy màu của sự vật để tả cảnh, gợi tình. Ở đây có mặt sắt đen sì của Hồ Tôn Hiến , có lờn lợt màu da của mụ Tú Bà, mặt như chàm đổ của Thúc Sinh v.v... Màu cỏ cũng đa dạng : khi thì “Cỏ non xanh tận chân trời” , khi thì “Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh” khi thì cỏ lợt màu sương , khi thì cỏ áy bóng tà, khi thì “Một vùng cỏ mọc xanh rì” … 
   Với Nguyễn Du, màu sắc là sản phẩm của cảnh vật và tâm lý . Màu cỏ non xanh gắn với bao cảm xúc bao la về viễn cảnh của cuộc đời , với vẻ thanh tân, trinh trắng của một vài bông hoa lê đầu mùa , ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh như cuộc đời dang dở . Cỏ áy bóng tà - cỏ nhuốm ánh vàng của nắng chiều như có cái gì xốn xang, day dứt .
   Màu sắc trong Truyện Kiều còn là màu sắc của tình cảm . Đó là những màu quan san, màu quan tái , màu khơi trêu , màu của nỗi nhớ “Bốn phương mây trắng một màu / Trông vời cố quốc biết đâu là nhà” . Hay “Trời cao trông rộng một màu bao la”. Có thể nói, Nguyễn Du không chỉ nắm bắt sắc màu của sự vật mà còn nắm bắt và diễn tả cả sắc màu tình cảm nhuốm đậm lên cảnh vật, không gian làm cho phong cảnh trở nên sinh động, có hồn …
4.Về cách sử dụng hư từ 
    Theo ý kiến của nhiều người thì vấn đề dùng hư từ chỉ có Truyện Kiều của Nguyễn Du là dùng đúng nhất .Cụ thể là các chữ : bao, bấy được dùng một cách độc chiếc trong Truyện Kiều .”Trải bao thỏ lặn ác tà” ; “Quản bao tháng đợi năm chờ” ; “Trời Liêu non nước bao xa” ; “Biết bao duyên nợ thề bồi” ; “Ai ai cũng đội trên đầu xiết bao” . Năm chữ bao ấy đều dùng chữ bằng nào mà cắt nghĩa được cả : trải bằng nào ngày đêm ; đợi chờ đến bằng nào năm tháng ; xa bằng nào ; thề bồi bằng nào ; đội trên đầu bằng nào . Tất cả đều có ý hỏi để tỏ ra nghiã là nhiều không phải ít . Cũng vậy, chữ bấy được dùng độc chiếc như : “Khéo vô duyên bấy là mình với ta” ; “Phủ phàng chi bấy hoá công” ; “Trời làm chi cực bấy trời” ; “Thân sao bướm chán , ong chường bấy thân” ; “Hoa sao hoa khéo đoạ đày bấy hoa” . Năm chữ bấy ấy đều dùng bằng ấy mà cắt nghĩa được cả : vô duyên bằng ấy , phũ phàng bằng ấy , cực bằng ấy , chán chường bằng ấy , đoạ đày bằng ấy ; Đều có ý tỏ lòng thương tiếc hoặc trách móc .
   Rồi đến chữ bây , nhưng chữ này không thể dùng độc chiếc ( Lão kia có giở bài bây) .
    Nhà thơ Nguyễn Du đã đặt sau các chữ bao , bây , bấy một chữ để làm thành liên tự chỉ thời gian như : bao giờ , bây giờ , bấy giờ … Những hư từ này được sử dụng nhiều trong Truyện Kiều
Các liên từ : bao nhiêu , bấy nhiêu cũng được sử dụng một cách linh hoạt trong tác phẩm , cụ thể là 3 trường hợp sau :
* “Sính nghi xin dạy bao nhiêu cho tường” ; “Bao nhiêu của , mấy ngày đườn”g . Bao nhiêu dùng độc chiếc không đi đôi với bấy nhiêu.
* “Vẫy vùng trong bấy nhiêu niên” ; “Gặp nhau còn chút bấy nhiêu là tình” , 
thì bấy nhiêu dùng độc nhất không đi với bao nhiêu .
* “Bao nhiêu cũng bấy nhiêu tiền mất chi”; Bao nhiêu đi đôi với bấy nhiêu …

5 . Sự sáng tạo của Nguyễn Du trong việc sử dụng ngôn từ nghệ thuật
a / Trước hết, cần nói đến từ ngữ mang phong vị ca dao , thành ngữ , tục ngữ 

    Ở đoạn thơ tả cảnh ngụ tình đặc sắc nhất trong Truyện Kiều, xuất hiện một tứ thơ mang phong cách thành ngữ tục ngữ . Để diễn tả nỗi lòng tưởng nhớ người yêu , xót thương cha mẹ , Nguyễn Du đã biểu đạt tâm tư ấy qua chiều dài của thời gian và khoảng cách của không gian như : dưới nguỵêt chén đồng , rày trông mai chờ , tựa cửa hôm mai cách mấy nắng mưa , chân trời góc bể , tấm son gột rửa, hoa trôi man mác , nội cỏ dàu dàu, chân mây mặt đất , gió cuốn mặt duềnh ,ầm ầm tiếng sóng… Những từ ngữ này làm cho cách sử dụng ngôn từ trở nên gần gũi , dễ hiểu , mang đậm màu sắc dân tộc .
b / Cách tạo từ mới đặc sắc trong Truyện Kiều 
    Nguyễn Du đã tạo ra hàng loạt ngôn từ không có trong thực tế , cũng không có trong từ điển thông thường ; mà theo ông Trần Đình Sử đó là những ngôn từ ý tượng (là hình ảnh chỉ nảy sinh trong tâm tưởng , không phải là hình ảnh sao chép thực tại ) có cấu tạo riêng , nói lên sự cảm thụ chủ quan của tác giả :
   Nói tới nước mắt thì nói giọt ngọc , giọt châu , giọt tương , giọt hồng , giọt tủi, giọt riêng ...
  Nói đến giấc ngủ thì ông nói giấc xuân , giấc mai, giấc hoè , giấc tiên, giấc nồng …
  Nói tới mái tóc , không chỉ là tóc mây , tóc sương mà là mái sầu . 
  Nói tới đường xa , ông nói thành dặm hồng , dặm xanh , dặm băng ,dặm khách , dặm phần …
  Nói tới chén rượu ông lại nói tới chén xuân , chén quỳnh , chén đưa, chén mời , chén khuyên chén đồng … mang đầy sắc thái khác nhau của tình huống .
  Nói tới cửa sổ ông cũng nói bằng những từ của riêng ông : song sa , song mai , song hồ , song mây , song trăng , song đào , song phi …
  Nói tới bóng trăng thì là bóng nga, bóng nguyệt …
   Nói tói tấm lòng thì ông gọi là tấm riêng , tấm yêu , tấm son ,tấm thành hoặc tấc cỏ ,tấc riêng , tấc son, tấc lòng …
  Cùng là gió mà có bao nhiêu thứ gió như : gió mưa , gió trăng , gió trúc mưa mai, gió tựa hoa kề , gió tủi mưa sầu …
  Những ngôn từ ý tượng này cũng là phương diện cơ bản của ngôn từ nghệ thuật Truyện Kiều . Nguyễn Du đã phá vỡ cách tạo từ thông thường để tạo từ mới gây hiệu quả lạ hoá .
 Nhà thơ cũng đã phá vỡ nhiều cấu trúc cố định để tạo thành những kết hợp không đâu có . Chẳng hạn : ăn gió nằm mưa , bướm chán ong chường , bướm lả ong lơi, cười phấn cợt son ,dày gió dạn sương, gìn vàng giữ ngọc, gió gác trăng sân, gió thảm mưa sầu , gió trúc mưa mai , gió giục mây vần , hoa thải hương thừa , hồn rụng phách rời , lấy gió cành chim , tô lục chuốt hồng , tiếc lục tham hồng , liễu ép hoa nài , liễu chán hoa chê , ngày gió đêm trăng , nắng giữ mưa gìn …Các cấu tạo đặc biệt này diễn đạt một trạng thái sự vật có ý nghĩa phổ quát , diễn ra nhiều lần và chỉ hiểu được trong ngữ cảnh tác phẩm Truyện Kiều mà thôi .
   Nói tóm lại, trong văn học Tiếng Việt , chỉ đến Truyện Kiều của Nguyễn Du thì ngôn từ mới tự đứng lên biểu diễn như một nghệ thuật . Nói Nguyễn Du là nhà nghệ sĩ lớn về ngôn từ chính là nói đến cách ứng xử nghệ thuật của ông đối với ngôn ngữ dân tộc và hiệu quả của nó . Điều này có ý nghĩa đặc biệt đối với việc sáng tạo ngôn ngữ thi ca nói chung mà Nguyễn Du là một tấm gương tiêu biểu . 
( Sưu tầm)


Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật


Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật trong đoạn trích “Trao duyên” (Truyện Kiều - Nguyễn Du)
Thứ sáu - 21/08/2015 10:57
Truyện Kiều là tác phẩm bất hủ của Nguyễn Du. Vay mượn cốt truyện từ văn học Trung Quốc nhưng bằng một “cảm hứng mới” và một bút lực nghệ thuật tài hoa Nguyễn Du đã viết lên một “Truyện Kiều” được đánh giá là hiện tượng “tập đại thành” của nền văn học Việt  Nam. Giá trị của “Truyện Kiều” không chỉ dừng lại ở mặt tư tưởng, đạo đức mà còn ở nghệ thuật văn chương tinh tế, điêu luyện đặc biệt là bút pháp miêu tả tâm lý nhân vật. Về mặt này Truyện Kiều được đánh giá là một “tiểu thuyết phân tích tâm lý, dưới hình thức hiện đại”. Truyện Kiều có nhiều trang phân tích tâm lý tuyệt bút mà đoạn trích “Trao duyên” trong chương trình Ngữ văn lớp 10 là một minh chứng tiêu biểu. Đây là một đoạn trích hay nhưng cũng rất khó tiếp cận. Toàn bộ đoạn trích tập trung thể hiện tấn bi kịch của Thúy Kiều khi phải trao lại tình duyên cho em. Bởi vậy theo chúng tôi để dạy tốt đoạn trích này cần tiếp cận nó từ góc độ những nét đặc sắc trong nghệ thuật miêu tả tâm lý của Nguyễn Du.
            Trao duyên! Hai tiếng ấy đã toát lên sâu sắc bi kịch của người trong cuộc. “Duyên” là sự gắn bó, hòa hợp tự nhiên, do trời định (duyên số), “duyên” còn là “tình” (duyên tình). Còn gì đau đớn hơn khi phải “trao duyên” cho kẻ khác (cho dù đó là em gái mình). Kiều làm sao có thể thuyết phục được em chấp nhận mối tình của mình trao lại trong khi trái tim nàng đang chảy máu thế kia? Như vậy ngay từ đầu Nguyễn Du đã đặt nhân vật vào trong một tình thế oái ăm để buộc nhân vật tự bộc lộ, tự giải bày những điều gan ruột nhất trong nội tâm của mình. Người đọc cứ bị cuốn dần cuốn dần vào trong dòng tâm trạng với những diễn biến tinh tế, phức tạp và nhiều phát triển bất ngờ của nhân vật.
            Bên cạnh đó để làm nổi bật những giằng xé nội tâm của Thúy Kiều trước một biến cố lớn của cuộc đời nàng, Nguyễn Du còn sáng tạo ra trong đoạn trích một hình tượng thời gian độc đáo. Việc “trao duyên” của Kiều cho Vân được thực hiện vào đêm cuối cùng trước ngày Kiều phải từ bỏ gia đình ra đi theo Mã Giám Sinh. Đây là khoảng thời gian ngắn ngủi mà Kiều có được với gia đình của mình. Sự ngắn ngủi của thời gian tạo nên sự dồn nén cảm xúc trong tâm hồn nhân vật: những dằn vặt về việc trả món nợ tình cho Kim Trọng, cảnh ngộ khó xử khi nói lời trao duyên cho em, nỗi đau đớn tuyệt vọng khi ý thức rõ thân phận “bạc mệnh” của mình… tất cả đều hiện lên chân thực qua ngòi bút miêu tả tâm lý tinh tế của Nguyễn Du.
          Đoạn thơ mở đầu bằng một tư thế lạ:
“…Cậy em em có chịu lời,
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.
Giọng điệu trang trọng, khẩn thiết của câu thơ, cử chỉ bất bình thường của nhân vật báo hiệu một điều gì đó vô cùng thiêng liêng, hệ trọng  mà Kiều sắp sửa nói ra. Nguyễn Du quả thật là tinh tế, tài hoa khi dùng từ “cậy” mà không dùng từ “nhờ”, dùng từ “chịu” mà không dùng từ “nhận” dù đây là những từ đồng nghĩa. Phải là “cậy” thì mới tô đậm được cái quằn quại, khó nói trong tâm lý nàng Kiều và làm nổi bật được ý nghĩa hy vọng thiết tha của một lời gửi gắm, nương tựa. Còn “chịu” khác với chữ “nhận” ở sắc thái van vỉ, nài ép khiến cho người nghe không thể không nhận lời. Chỉ với hai chữ ấy thôi Nguyễn Du đã cân được sức nặng của một tình thế, một tâm trạng: lắt léo, trớ trêu và khó nói. Đặc biệt với sự hoán đổi vị trí trong quan hệ chị em: “Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽthưa”, Kiều đã tạo ra tư thế lụy phiền bằng cách hạ mình rất thấp để Vân có thể động lòng mà chấp nhận lời thỉnh cầu của mình. Hơn ai hết Kiều thấu hiểu sự thiệt thòi của em gái mình trong tình thế phải nhận lời trao duyên. Hành động tôn kính quá mức của Thúy Kiều (lạy/thưa) là sự tỏ lòng biết ơn, chịu ơn trước sự hy sinh của em mình.
Những lời lẽ khẩn thiết, cảm động, những hành động gấp gáp, dồn dập trong 2 câu thơ mở đầu trước hết bắt nguồn từ ý thức thời gian hiện tại ngắn ngủi, thắt ngặt của Thúy Kiều. Thúy Kiều biết nàng không thể dùng dằng thêm một phút giây nào nữa bởi sáng mai đây thôi nàng đã phải lên đường, phải từ bỏ tất cả: tình yêu, hạnh phúc của mình.
Khi khúc dạo đầu đã qua đi, Thúy Kiều bắt đầu kể cho em nghe cảnh ngộ khó xử của mình:
Giữa đường đứt gánh tương tư,
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em
Kể từ khi gặp chàng Kim,
Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề
Sự đâu sóng gió bất kì
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai
Lời giải bày của nàng Kiều mang màu sắc tâm sự, vừa kể vừa để thuyết phục em bằng lí lẽ và tình cảm. Kiều nhắc lại chuyện Kiều phải dứt tình thâm với Kim Trọng để bán mình chuộc cha, phải hi sinh chữ tình cho chữ hiếu để hợp đạo làm con. Khơi được mạch cảm thông, Kiều mới tha thiết thỉnh cầu:
Ngày xuân em hãy còn dài
Xót tình máu mủ thay lời nước non
Chị dù thịt nát xương mòn
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.
Tác động vào lí trí chưa đủ Kiều còn viện cả tới tình cảm chị em và tình cảnh đau khổ của bản thân để thuyết phục Vân thay nàng trả nghĩa chàng Kim. Những thành ngữ nói về tình máu mủ, ruột rà: tình máu mủ / lời nước non, hay nói về cái chết: thịt nát xương mòn/ ngậm cười chín suối tạo nên sức lay động mạnh mẽ trong lời tâm sự của Thúy Kiều. Kiều nói với em bằng những lời thẳm sâu nhất từ trái tim của một người chị, nàng còn lấy cả linh hồn kẻ bạc phận để biết ơn em “ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây”. Kiều dứt khoát tìm mọi cách để thuyết phục Thuý Vân thay mình trả nghĩa chàng Kim, bởi Kiều ý thức sâu sắc về hạn chót của thời gian, Kiều không thể làm gì khác để cứu tình yêu.
Khi đã thuyết phục được Vân, Kiều lấy những kỉ vật tình yêu với Kim Trọng để trao lại cho em: Chiếc thoa, bức vành mây, phim đàn, mảnh hương nguyền. Bao nhiêu kỉ vật là bấy nhiêu tình yêu. Những thứ thiêng liêng mà Kiều ôm ấp trong vòng tay, trong trái tim giờ đây nàng đành phải trao lại cho em. Trao kỉ vật nàng ý thức được một sự mất mát to lớn không gì có thể cứu vãn nên tay nàng trao cho Vân mà tim nàng rung lên đầy đau đớn: “duyên này thì giữ vật này của chung”. Có chút gì như là cố níu kéo, cảm giác nuối tiếc và nỗi “đau đớn lòng” trong hai chữ “của chung” ấy. Thúy Kiều rơi vào sự mâu thuẫn giữa lời nói và hành động, lí trí và tình cảm: duyên thì trao nhưng tình lại không thể dứt. Câu thơ của Nguyễn Du không có một từ ngữ nào trực tiếp miêu tả tâm trạng vậy mà lại cồn lên biết bao nhớ nhung, nuối tiếc, giằng xé đến chảy máu trong tâm hồn. Với Kiều đây không chỉ là hành động trao kỉ vật mà nàng đang phải vĩnh biệt mối tình đầu trong sáng và đẹp đẽ của mình. Có thể nói để viết những câu thơ này nhà thơ phải nhập rất sâu vào “vai” của nhân vật để phân tích, khơi đúng dòng ý thức nhân vật.
            Đoạn thơ trên không chỉ cho ta thấy một Thúy Kiều thông minh, sắc sảo qua những lí lẽ  thuyết phục Thúy Vân thay nàng trả nghĩa chàng Kim mà còn là sự ý thức sâu sắc của nàng Kiều về số phận bi kịch của mình trong hiện tại: khát vọng tình yêu thì vô biên nhưng cuộc đời lại nhiều dâu bể với những “sóng gió bất kì” khiến cho hạnh phúc  tình yêu phút chốc lại trở thành nỗi đau tan vỡ.
            Từ điểm nhìn hiện tại ấy, Thúy Kiều hình dung ra một tương lai thật não nề khi đối sánh thân phận “người bạc mệnh” của mình với hạnh phúc lứa đôi của Thúy Vân và Kim Trọng. Nàng biết lấy gì làm cứu cánh, làm điểm tựa tinh thần nếu không quay về với những kỉ niệm tình yêu của ngày đầu ước hẹn:
Mất người còn chút của tin,
Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa,
Sự đồng hiện quá khứ lúc này không cho nàng cái cảm giác ấm áp, ngọt ngào mà trái lại càng khơi sâu vào nỗi đau trong trái tim nàng. Kỉ niệm tình yêu đẹp đẽ ấy ngỡ như mới hôm qua thôi mà nay đã trở thành cái “ngày xưa” xa hun hút, thăm thẳm. Biết bao nỗi niềm nuối tiếc, xót xa trong hai chữ “ngày xưa” ấy. Tìm về quá khứ Thúy Kiều không thấy niềm an ủi, còn tương lai thì thật hãi hùng:
Mai sau dù có bao giờ,
Đốt lò hương ấy so tơ phím này,
Trông ra ngọn cỏ lá cây,
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về,
Hồn còn mang nặng lời thề,
Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai,
Dạ đài cách mặt khuất lời,
Rưới xin giọt nước cho người thác oan,
Ở đó nàng gặp mình trong hình ảnh người của thế giới bên kia. Nàng thấy mình là một “hồn oan” vật vờ trong ngọn cỏ lá cây, bay về trong gió, linh hồn không siêu thoát được vì vẫn mang nặng lời thề. Nàng thấy nỗi oan tình của mình cũng giống như chàng Trương Chi xưa mang nặng khối tình xuống Tuyền đài  chỉ có nước mặt của người xưa mới hóa giải được. Tưởng rằng trao duyên rồi, Thúy Kiều sẽ tìm thấy được sự thanh thản trong tâm hồn nào ngờ nỗi đau đớn càng dày thêm.
Giọng thơ thay đổi, hình ảnh thơ ma mị, chập chờn, huyền bí, không khí linh thiêng cùng dòng thời gian tâm lý với sự đồng hiện của 3 chiều thời gian quá khứ - hiện tại – tương lai… Tất cả giúp Nguyễn Du miêu tả thành công cơn khủng khoảng dữ dội trong tâm lý nàng Kiều khi vĩnh viễn mất đi tình yêu của mình. Tình yêu với Kiều là toàn bộ cuộc sống và mất tình yêu thì cũng có nghĩa là nàng đã chết – cái chết tinh thần.
Qua ngòi bút của Nguyễn Du, những mâu thuẫn trong thế giới nội tâm của nàng Kiều còn được thể hiện chân thực thông qua việc sử dụng ngôn ngữ độc thoại nội tâm. Như chúng ta đã biết Truyện Kiều là một tác phẩm tự sự nhưng xuyên suốt tác phẩm, đặc biệt là ở đoạn trích “Trao duyên” Nguyễn Du lại dùng ngôn ngữ độc thoại nội tâm để miêu tả nhân vật. Đây là một dụng ý nghệ thuật của tác giả. Để cho nhân vật độc thoại nội tâm nhà thơ muốn nhân vật tự nếm trải cảm giác, tự bộc lộ, tự phơi bày tâm tư tình cảm và khát vọng sâu kín của mình. Nhà văn không đứng bên ngoài để miêu tả nội tâm nhân vật mà để nhân vật tự cất lên tiếng nói bên trong của mình. Có thể nói không ở đâu thế giới nội tâm nhân vật lại hiện lên một cách sống động và chân thực như trong ngôn ngữ độc thoại. Đây là một sáng tạo độc đáo của Nguyễn Du so với các cây bút đương thời khi xây dựng nhân vật.
Trong đoạn trích “Trao duyên” nếu như ở phần thứ nhất (phần trao duyên) nhà thơ chủ yếu sử dụng ngôn ngữ đối thoại khi tái hiện những lời thỉnh cầu tha thiết, cảm động và những lí lẽ giàu sức thuyết phục của Thúy Kiều để Thúy Vân chấp nhận trả nghĩa chàng Kim thì ở phần hai ngôn ngữ thơ đã có sự thay đổi. Vẫn là lời của Kiều dặn dò Thúy Vân nhưng dường như Thúy Kiều đã quên mất sự có mặt của Vân bên cạnh, nàng như đang tự nói với mình, thầm thì với mình nỗi xót tiếc quá khứ, sự não nề trước tương lai mờ mịt, hãi hùng và một thực tế vỡ tan:
Bây giờ trâm gãy gương tan,
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!
Đang tự nói với mình, nàng lại chuyển đối tượng giao tiếp sang Kim Trọng:
Trăm nghìn gửi lạy tình quân,
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi!
Phận sao phận bạc như vôi!
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng.
Sự chuyển đổi này tạo ra một ngôn ngữ trữ tình đa âm, đa giọng, một điều cực kì hiếm thấy trong văn học Trung đại. Trong lời nói Thúy Kiều, Nguyễn Du sử dụng một loạt thành ngữ diễn tả sự tan vỡ, số phận bi kịch, sự trôi nổi, vô định của kiếp người (trâm gãy bình tan, tơ duyên ngắn ngủi, phận bạc như vôi, nước chảy hoa trôi). Tâm trạng Thúy Kiều đang chìm sâu trong sự chiêm nghiệm cá nhân để nhận ra sự nhỏ nhoi, số phận bi kịch của mình trước cái vô hạn của tình yêu, khát vọng (kể làm sao xiết muôn vàn ái ân). Và nỗi đau được đẩy tới cao trào trong hai câu kết:
Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!
            Chỉ trong một câu thơ thôi nhưng có đến hai lần nàng gọi tên người yêu, gọi bằng tất cả sự nồng nàn, thiết tha và đầy trân trọng (Kim lang chứ không phải là Kim Trọng). Thán từ “Ôi”, “Hỡi” đứng đầu hai vế câu cùng dấu chấm than (!) và cách ngắt nhịp lẻ (3/3) làm cho câu thơ giống như một tiếng nấc nghẹn ngào, tuyệt vọng của nàng Kiều. Trong tột cùng đau đớn nàng tự nhận lỗi về mình “thiếp đã phụ chàng từ đây”. Thúy Kiều bán mình chuộc cha là do hoàn cảnh khách quan, xuất phát từ tấm lòng hiếu nghĩa thơm thảo của nàng: “Làm con trước phải đền ơn sinh thành”nhưng nghĩ về Kim Trọng nàng lại tự nhận mình là người phụ bạc, bội ước. Tình yêu nàng dành cho Kim Trọng lớn tới mức khiến nàng quên cả nỗi đau đớn của bản thân mà thương cho nỗi đau của Kim Trọng. Nàng không đổ thừa cho hoàn cảnh mà dám nhận trách nhiệm về mình. Thúy Kiều quả là một con người có nhân cách cao thượng và giàu lòng vị tha.
Với đoạn trích “Trao duyên”, Nguyễn Du đã vượt qua một “ca” tâm lí phức tạp, giàu kịch tính. Sự kết hợp tuyệt diệu của hai bút pháp tự sự và trữ tình giúp nhà thơ miêu tả thành công những mâu thuẫn bên trong hết sức chân thực của nội tâm nhân vật. Nguyễn Du đã nhập rất sâu, có lúc như hòa làm một vào nhân vật để đồng cảm với nỗi đau dứt tình và khát vọng tình yêu mãnh liệt của nhân vật. Viết về bi kịch tình yêu tan vỡ nhưng tác giả lại làm nổi bật được vẻ đẹp tâm hồn cao quý của Thúy Kiều đó là tình yêu thủy chung, lòng vị tha, đức hy sinh cao cả…Nghệ thuật miêu tả tâm lý bậc thầy cùng cảm hứng nhân văn cao cả đã làm cho “Trao duyên” trở thành một trong những đoạn trích tiêu biểu, có vị trí quan trọng nhất của Truyện Kiều.
Thái Thị Hiền - Trường THPT Dân Lập Can Lộc



NGHỆ THUẬT TẢ CẢNH


NGHỆ THUẬT TẢ CẢNH NGỤ TÌNH QUA HAI ĐOẠN TRÍCH: “KIỀU Ở LẦU NGƯNG BÍCH” VÀ “THÚC SINH TỪ BIỆT THÚY KIỀU”

Nguyễn Du là bậc thầy ngôn từ của thơ ca Việt Nam, là ngòi bút thiên tài trong việc sử dụng nghệ thuật tả cảnh ngụ tình để nói lên tâm trạng con người. Bút pháp tả cảnh ngụ tình ở đây được hiểu là mượn cảnh vật để gửi gắm tâm trạng của nhân vật. Cảnh không chỉ là bức tranh tâm trạng mà còn là nơi con người có thể giãi bày tâm trạng của mình, trong tình có cảnh, trong cảnh có tình. Vì vậy mà Nguyễn Du đã đưa ra quan điểm của mình khi ông tả cảnh:
“Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ.”
Nguyễn Du với ngòi bút điêu luyện, tinh tế trong lối miêu tả cảnh ngụ tình đã đưa tâm hồn con người hòa vào cảnh vật. Nhưng cũng đồng thời lấy hình ảnh con người soi dọi tâm hồn tạo nên sự kết hợp hài hòa giữa hai chiều. Vì vậy, mà trong suốt thiên truyện, mỗi bước chân của Kiều đều được gắn với hình ảnh của thiên nhiên. Trong truyện Kiều nghệ thuật tả cảnh ngụ tình thật muôn hình vạn trạng, mỗi một bức tranh thiên nhiên lại gắn với một tâm trạng của con người, soi dọi con người, giúp cho nhân vật gửi gắm tâm trạng của mình. Nghệ thuật ấy đã vẽ nên những bức tranh tả cảnh ngụ tình đạt đến tuyệt bút. Người đọc không thể quên được bức tranh hòa quyện tình cảnh trong đoạn “Kiều ở Lầu Ngưng Bích”
Đoạn trích "Kiều ở lầu Ngưng Bích" là sự kết hợp, giao hoà của hai yếu tố cảnh vật và tâm trạng. Hay nói cách khác đó là đỉnh cao của nghệ thuật tả cảnh ngụ tình- một bức tranh tả cảnh ngụ tình đạt đến tuyệt bút.       Đoạn trích nằm ở phần thứ hai của truyện- Gia biến và lưu lạc, như những cụm mây đen đầu tiên che phủ lên cuộc đời Kiều. Đành đoạn dứt tình với Kim Trọng, nàng nguyện hiến thân cứu cha. Cái trong trắng của một tiểu thư từ nhỏ được mẹ cha bảo bọc, tình phụ tử sâu nặng và lòng hiếu thảo của đứa con ngoan đã đẩy nàng Kiều vào vòng lừa lọc từ những kẻ buôn người. Nỗi uất ức của nàng được Tú Bà xoa dịu bằng ngày tháng giam cầm ở lầu cao với cớ rằng để nàng tịnh tâm, bình phục. Những vần thơ buồn mênh mang như gieo vào lòng người đọc nỗi niềm sót xa không nguôi.
Trước hết, Nguyễn Du diễn tả nỗi cô đơn của Kiều. Câu thơ đầu đã đưa người đọc vào không gian tù hãm nên cảnh vật do đó cũng nhuốm mầu tâm trạng:
“ Trước lầu ngưng bích khóa xuân”
Vẻ non xa, tấm trăng gần ở chung.”
Kiều bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích, hai chữ "khóa xuân" đã nói lên điều đó. Chữ khóa xuân lấy từ điểm tích Chu Du bị gió đông cản việc phóng hỏa đốt trại Xích Bích, nên Đổng Tước không bị cháy, nhưng chính vì đó đã khóa chặt tuổi xuân hai chị em Đại kiều và Tiểu Kiều:
“ Đông phong bất dữ chu lang tiện
Đổng tước xuân tâm tỏa nhị Kiều”
Qua đó chúng ta nhận thấy đó là không gian tù hãm. Khung cảnh thiên nhiên ở đây được vẽ ra bằng khung cảnh nội tâm nhân vật. Cảnh vắng lặng, tuyệt đối không có một chút âm thanh, một bóng người như càng được cô lập Kiều trong sự cô đơn đến rợp người.  Bởi vậy, dù có cả "vẻ non xa" lẫn "tấm trăng gần" nhưng cảnh vật ấy chẳng thể nào gợi lên một chút tươi vui hay ấm áp. Nhà thơ đã dùng hai chữ "ở chung" thật khéo. Kiều trông thấy tất cả những thứ đó nhưng với nàng, chúng chẳng khác gì nhau và càng không có gì đặc biệt. Hai yếu tố trái ngược non xa, trăng gần tưởng như phi lí nhưng thực ra đã diễn tả rất chính xác sự trống trải của cảnh vật qua con mắt của Kiều. Khung cảnh "bốn bề bát ngát" chỉ càng khiến cho lòng người thêm gợi nhớ:
                                 “Bốn bề bát ngát xa trông  
                            Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia.”          Có thể hình dung rất rõ một không gian mênh mang đang trải rộng ra trước mắt Kiều. Một người bình thường đứng trước không gian ấy cũng khó ngăn được nỗi buồn. Với Kiều, không gian rộng rãi, trống trải ấy chỉ càng khiến nàng suy nghĩ về cuộc đời mình:                
“Bẽ bàng mây sớm đèn khuya
Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng.”
Đó là một khung cảnh thiên nhiên rộng mênh mông, vắng lặng không một bóng người. Cái vắng lặng của thiên nhiên và cái mênh mông của đất trời đã khắc sâu vào trong lòng người cảm giác cô đơn. Trong tâm hồn Thúy Kiều và dồn tới lớp lớp những nỗi niềm chua xót đau thương. Chỉ sáu câu thơ, bằng nét bút chấm phá tài hoa, bức tranh thiên nhiên luôn làm nền cho hoạt động nội tâm của Kiều. Cảnh tình như hòa hợp làm một: cảnh buồn, tình buồn, ngôn ngang tâm trạng buồn tủi, cô đơn của Kiều thể hiện sâu lắng. Qua đó chúng ta thấy được sự thành công của Nguyễn Du trong việc sử dụng bút pháp tả cảnh ngụ tình.
Theo dòng tâm trạng của Kiều câu thơ bắt vào nỗi nhớ:
“Tưởng người dưới nguyệt chén đồng
Tin sương luống những rày trông mai chờ.
Bên trời góc bể bơ vơ
Tấm son gột rửa bao giờ cho phai.”
Khác với tâm trạng Thúy Kiều khi xa Thúc Sinh và xa Từ Hải sau này. Nỗi nhớ Kim Trọng gắn liền với kỷ niệm của đêm trăng thề nguyền qua hình ảnh “dưới nguyệt chén đồng”. Một lần nữa ánh trăng lại hiện ra. Ánh trăng là nhân chứng của tình yêu vẫn còn đó, lời thề: “tạc một chữ đồng đền xương” vẫn chưa ráo một người, một ngả chia xa. Người thì “rày trông mai chờ”, người thì bên trời “góc bể bơ vơ”. Lời thơ ít, ý thơ nhiều, những hình ảnh thơ chọn lọc đã diễn tả được nỗi nhớ nhung da diết mạnh liệt của Kiều đối với Kim Trọng và tình cảnh bơ vơ của nàng. Càng nhớ đến Kim Trọng thì Kiều lại càng đau đớn cho thân phận mình, càng nuối tiếc mối tình đầu trong trắng, nàng càng ý thức được thân phận mình. Sau nỗi nhớ Kim Trọng đó là nỗi nhớ cha mẹ:
“Xót người tựa cửa hôm mai
Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ?
Sân Lai cách mấy nắng mưa
Có khi gốc tử đã vừa người ôm”.
Nàng đã nhớ thương cha mẹ khôn nguôi. Chỉ bốn câu thơ độc thoại nội tâm mà tấm lòng hiếu thảo của Kiều đã được Nguyễn Du thể hiện thật cao đẹp và xúc động. Với bút pháp tài hoa độc đáo trong việc sử dụng sáng tạo ngôn ngữ văn học. Nguyễn Du đã khắc họa được bức tranh phong phú và sinh động về ngoại cảnh và tâm trạng qua việc sử dụng điểm tích cổ của Trung Quốc. Từ những nỗi niềm buồn thương đó, Nguyễn Du đã khéo léo tô thêm màu xám trên ánh nhìn xa xăm của Kiều, đẩy sầu não lên thành đỉnh điểm, qua tám câu khép lại đoạn trích:
“Buồn trông cửa bể chiều hôm
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa.”
Nhà thơ đã lấy khung cảnh thiên nhiên để làm nền sự vận động nội tâm của nhân vật trữ tình. Tất cả đều trở nên hoang sơ: “ Cửa bể chiều hôm” - thời điểm quen thuộc của nghệ thuật, của những lưu luyến khó tả. Đó là những hình ảnh những tia nắng leo lắt cuối ngày phản chiếu lên mặt biển xanh thẳm rồi lan ngay ra không gian xung quanh, khiến mọi thứ nhuốm màu sẫm tối, có cái gì như niềm lưu luyến tha thiết của Kiều về ngày tháng êm đềm xưa kia. Con thuyền và  những cánh buồm đều ở rất xa, thoắt ẩn thoắt hiện trong ánh hoàng hôn trĩu buồn, như niềm hy vọng của nàng chỉ là những chấm nhỏ ngoài khơi xa mịt mờ, những từ thấp thoáng, xa xa càng khiến hy vọng nhạt nhòa. Cánh hoa trôi man mác trên ngọn nước mới sa gợi trong lòng Kiều nỗi buồn về thân phận trôi nổi, không biết rồi sẽ bị trôi dạt, bị vùi dập ra sao:
                                       "Buồn trông ngọn nước mới xa        
                                      Hoa trôi man mác biết là về đâu!"    
Cánh hoa mỏng manh dập dìu trước ngọn nước từ trên cao đổ xuống. Thử hỏi, cánh hoa mỏng manh ấy làm sao chịu nổi sức nước tràn? Cũng giống như Kiều, một người con gái nhỏ bé, yếu ớt nhưng bị cuộc đời xô đẩy. Nhìn cảnh vật mà Kiều xót xa cho duyên phận, số kiếp của mình. Sau hình ảnh một cửa biển, một cách hoa giữa dòng nước là cảnh của một nội cỏ, nhưng là nội cỏ dầu dầu:                                                                                      
                                        "Buồn trông nội cỏ dầu dầu 
                                 Chân mây mặt đất một màu xanh xanh".
Tuy nhiên, bãi cỏ không còn mang màu xanh tươi như tiết thanh minh tháng ba mà nó “rầu rầu” gợi cho ta sự tàn úa đến thảm thương. Xanh trời nối tiếp xanh đất nhưng xanh nào cũng là màu xanh tàn úa, héo hắt. Màu xanh tàn héo ấy khiến cho bức tranh trở nên ảm đạm. Kiều nhìn vào màu xanh mong tìm kiếm chút hy vọng nhỏ nhoi, nhưng càng hy vọng thì càng thất vọng. Kiều lại rơi vào nỗi thất vọng ngập tràn. Cảnh buồn hay vì người buồn nên cảnh mới buồn. Nàng Kiều đã thật sự tuyệt vọng, cảnh vật mang mầu tâm trạng. Nhìn cảnh vật u ám như tương lai mờ mịt của nàng. Cảnh vật đưa nàng vào suy nghĩ dằn vặt và đau xót hơn:                                                   
                             ”Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,   
                          Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.”      
Trong lúc tuyệt vọng nhất, Kiều thấy mình dường như chao đảo. Từng ngọn gió mạnh thổi sóng vỗ ầm ầm. Cảnh vật dường như cũng đang nhuốm mấu hưu quạnh, mang tâm trạng của Kiều, mặt biển dậy sóng, lòng Kiều cũng dậy sóng. Những đợt sóng dữ dội như dự báo trước điều bất an, như cảnh báo một tương lai bão táp đang chờ Kiều trước mắt. Người con gái tài sắc trong hoàn cảnh đó đã hoảng loạn vô cùng. Và toàn bộ tám câu thơ kết thành một bức tranh thiên nhiên toàn cảnh với mặt biển, chân mây, cánh hoa, nội cỏ, sóng gào, gió cuốn vừa buồn thảm, vừa ghê sợ. Bức tranh thiên nhiên ấy đồng thời mang tâm trạng và hoàn cảnh cô đơn, tâm trạng hãi hùng trước tương lai mờ mịt. Đoạn thơ nói lên hiện tại lẻ loi, đơn độc và báo hiệu ngày mai đầy khủng khiếp của nàng. Qua đó, chúng ta thấy được ngòi bút điêu luyện của Nguyễn Du trong việc sử dụng hình ảnh thiên nhiên để nói lên tâm trạng của Thúy Kiều thật đúng với lời khen ngợi: “như máu chảy ở đầu ngọn bút và thấu nghìn đời”.
Nếu như trong đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích”, Nguyễn Du thông qua hình ảnh thiên nhiên để nói lên tâm trạng buồn cô đơn của Thúy Kiều thì ở đoạn trích “Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều” Nguyễn Du cũng đã sử dụng những hình ảnh thiên nhiên để ghi lại giây phút từ biệt và nỗi buồn của Kiều đối với Thúc Sinh cũng như đối với số phận của mình. Nỗi buồn ly biệt từ lòng người.
Đoạn trích “Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều”, gồm tám câu năm trong phần lưu lạc và gia biến. Có thể nói đây là đoạn trích tả cảnh ly biệt đặc sắc nhất. Cảnh ly biệt có kẻ ở người đi, có bao nhiêu bịn rịn như bao cảnh chia ly khác nhưng cái đẹp ở đây chính là sự hòa hợp giữa cảnh vật và con người. Cảnh vật cũng như nhuốm màu ly biệt. Cả không gian, thời gian đều nhuốm màu chia ly.
“Người lên ngựa  kẻ chia bào.
                           Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san.”

 Đây là một bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp với rừng phong thu bát ngát rộng lớn. Cả một "rừng phong thu" bao la đỏ ối "đã nhuốm màu quan san", nơi xa xôi cách biệt. "Màu quan san" ấy gợi cho ta cảnh ly biệt vẫn thường diễn ra vào mùa thu. Nỗi nhớ thương của đôi lứa khi chia tay, từ lòng người như thấm sâu vào cảnh vật, vào không gian bao la, vào sắc lá của "rừng phong thu".
Kim Trọng đi, Kiều ở lại, một mình đựng lặng lẽ, cô đơn, hướng mắt theo Kim Trọng. Cảm giác lưu luyến bin rịn khôn nguôi, cảm xúc tạo nên cái cảm xúc biên thùy:
                                "Dặm hồng bụi cuốn chinh an,     
                     Trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh".     
Con đường đỏ bụi “dặm hồng”, bụi cuốn lấy yên ngựa của người đi xa “bụi cuồn chinh an”. Kiều trông theo bóng hình Thúc Sinh, người chồng, vị ân nhân của nàng, nhìn mãi, nhìn mãi cho đến lúc chỉ thấy màu xanh của ngàn dâu mờ xa cuối chân trời. Chữ "trông" và chữ "khuất" diễn tả tình cảm lưu luyến khôn nguôi. Từ màu đỏ của "rừng phong thu" đến màu "hồng" của bụi cuốn, màu "xanh" của ngàn dâu, đó là màu của tâm tưởng, màu của biệt li, màu của thương nhớ:  
                                        "Ngàn dâu xanh ngắt một màu,     
                                          Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?"
Màu xanh ở đây không còn giống màu xanh của cỏ nội dầu dầu. Nhưng màu xanh này cũng ảm đạm, cũng thê lương. Giữa hai người là sự ngăn cách của ngàn dâu xanh ngắt một màu. Màu xanh trở nên xa vời và ngăn cách. Câu thơ tự sự bỗng chốc trở thành câu thơ chữ tình chứa chan tâm trạng. Nguyễn Du đã tiếp nhận hình ảnh ấy để đưa vào khung cảnh ly biệt giữa Thúc Sinh và Kiều, làm cho cuộc chia tay trở nên bịn dịn, da diết. Cảnh buồn, người buồn, câu thơ như có một sức lan tỏa đặc biệt, khiến cho độc giả ngày nay khi đọc câu thơ cũng không khỏi bùi ngùi xúc động.
Cuộc chia tay nào cũng đến lúc phải xa nhau, phải buồn, mỗi người đôi ngả. Tuy nhiên, nỗi buồn và cô đơn của Kiều ở đây như có lan tỏa mãnh liệt đến từng cảnh vật, cảnh vật nhuốm mầu hiu quạnh. Nàng thương mình lẻ loi, cô đơn "chiếc bóng năm canh", thao thức, thương nhớ, chờ đợi.... Nàng thương Thúc Sinh đi xa "muôn dặm" vất vả, nhưng mình cô đơn "một mình", và một ngày một "xa xôi" thêm:                                                                         
                             "Người về chiếc bóng năm canh,      
                           Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi".    
    "Người về" với "kẻ đi" ở hai phía chân trời. "Chiếc bóng" và "một mình" đều lẻ loi, cô đơn. Đêm "năm canh" đợi chờ như dài ra. "Muôn dặm" với bao thương nhớ như "xa xôi" vô tận. Đêm đêm nàng Kiều thao thức, chỉ có vầng trăng với nàng. Xưa là vầng trăng thề nguyền, chứa chan hạnh phúc, "Đêm nay" chỉ có vầng trăng li biệt, "vầng trăng ai xẻ làm đôi", biết bao đau buồn  thương nhớ!                                                                                               
                                      "Vầng trăng ai xẻ làm đôi      
                             Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm đường"
Đó là một nỗi cô đơn chia sẻ bao chùm lên toàn cảnh vật. Cảnh vật đó cũng trở nên buồn bã, thê lương. Nên hình ảnh thiên nhiên nào hiện lên cũng cô đơn, lẻ loi. Đặc biệt là hình ảnh “Vầng trăng ai xẻ làm đôi”, như một tiếng thở dài bất lực của số phận. Đồng thời, hai câu thơ đã thể hiện lòng xót thương của Nguyễn Du đối với số phận và hạnh phúc của Kiều. Qua đấy thấy được ngòi bút tài hoa của ông. Phải chăng Nguyễn Du đã mượn ca dao để nói vân dụng vào câu thơ của mình? Hay tác giả dân gian đã mượn câu Kiều để khơi nguồn thi hứng? Rõ ràng truyện Kiều đã thấm sâu vào tâm hồn dân tộc, đã trở thành lời ru, câu hát dân gian:
“Vầng trăng ai xẻ làm đôi
Đường trần ai vẽ ngược xuôi hỡi chàng
Đưa nhau một bước lên đàng
Cỏ xanh hai dãy mấy hàng châu sa.”

Hình tượng vầng trăng bị ai xẻ làm đôi đã để lại trong lòng ta bao xót thương và ám ảnh. Ở đây cảnh vật được xây dựng bằng bút pháp của hội họa: có sắc màu, có hình ảnh nhưng lại ảm đạm, hiu hắt ? Gợi cảm giác cô đơn rợn ngợp của con người trước cái bao la, mênh mông của không gian; buồn nhưng không bi lụy bởi cuộc chia ly ít nhiều còn có hy vọng. Nghệ thuật tả cảnh với những chi tiết được chọn lọc kỹ càng, chấm phá. Nghệ thuật miêu tả tâm trạng con người khéo léo, sâu sắc, tả cảnh ngụ tình tinh tế, tài tình. Đoạn trích thể hiện ngòi bút tài năng của nhà thơ Nguyễn Du, một thiên tài đỉnh cao nghệ thuật. Đoạn trích được đánh giá ngang tầm với một thiên phú biệt ly. Tác giả đã gạt bỏ những chi tiết tự sự, thay vào đó để thiên nhiên nói hộ tâm trạng của con người.